Xử lí phế phẩm nông nghiệp sau thu hoạch

Số lượt xem: 67
Xử lí phế phẩm nông nghiệp sau thu hoạch
Hiện nay, số lượng phế phẩm nông nghiệp sau thu hoạch được tái sử dụng như làm phân bón cho đất, làm thức ăn cho vật nuôi… chỉ có khoảng 20 %. 80% còn lại của các phế phẩm này không qua tái sử dụng mà thải trực tiếp ra môi trường bên ngoài, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

 

1. Phế phẩm nông nghiệp sau thu hoạch

Các phế phẩm nông nghiệp hiện nay hầu hết có nguồn gốc từ các quy trình trồng trọt, chế biến cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, hoa quả…. Rơm, rạ, mùn cưa, bẹ ngô, xơ dừa, vỏ trấu...là những loại phế phẩm phổ biến nhất. Đây được coi vừa là nguồn nguyên liệu vừa lượng phế thải khổng lồ và đang có xu hướng ngày càng gia tăng.

Việt Nam là một nước nông nghiệp đang trên con đường công nghiệp hóa, rất nhiều diện tích nông nghiệp đang bị thu hẹp do phải chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang mục đích công nghiệp (xây dựng các khu công nghiệp). Tuy vậy sản lượng nông nghiệp vẫn tăng trưởng với những con số ấn tượng, điều đó kéo theo lượng phế thải dư thừa trong quá trình chế biến các sản phẩm nông sản, thực phẩm cũng tăng theo hàng năm và đa dang về chủng loại. Điều đó dẫn đến các bài toán cần giải quyết về bãi chứa phế phẩm, gây ô nhiễm và đe dọa môi trường sống xung quanh, đặc biệt là tại những địa phương có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp. Như đồng bằng sông Cửu Long, có thể thu gom lên đến 1,4 – 1,6 triệu tấn sản lượng trấu, Tây Bắc cũng thu gom được 55000 – 60000 tấn mùn cưa từ việc khai thác và chế biến gỗ, tổng sản lượng phế thải sinh khối hằng năm ở nước ta có thể đạt tới 8 – 11 triệu tấn.

Theo chiều hướng công nghiệp hóa của đất nước, ngành nông nghiệp cũng đang được chú trọng đầu tư cơ giới hóa, tuy nhiên việc cơ giới hóa không thống nhất và triệt để dẫn đến những hệ quả ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường. Lúc trước khi chưa được cơ giới hóa, các phế phẩm nông nghiệp sau thu hoạch như rơm, rạ được sử dụng vừa làm chất đốt vừa làm nguyên liệu ủ phân hữu cơ…, ngoài ra các phế phẩm khác vẫn được bà con nông dân sử dụng vào nhiều mục đích khác.

Tuy nhiên, khoa học - kĩ thuật – kinh tế ngày càng phát triển, xuất hiện nhiều sản phẩm tiện lợi cho cuộc sống hơn nên dân đến tình trạng các phế phẩm không được trọng dụng như trước đây, chúng thường bị bỏ lại ngay tại đồng ruộng sau khi thu hoạch, hoặc bị đốt ngay tại ruộng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của con người, ảnh hưởng tới môi trường đất và không khí.

2. Một số loại phế phẩm nông nghiệp.

2.1. Phế phẩm từ lúa gạo

Rơm, rạ, vỏ trấu là những phế phẩm xuất hiện sau khi thu hoạch, sản xuất lúa gạo. Rơm rạ là những bộ phận gốc và thân cây lúa bỏ đi sau khi hoạch, còn vỏ trấu là vỏ bên ngoài của hạt lúa, hạt lúa sau khi tách phần vỏ thành hạt gạo. Viết Nam là một trong những đất nước sản gạo lớn nhất thế giới, vì vậy tương đương với lượng gạo sản xuất ra được là lượng phế phẩm thải ra sau khi sản xuất gạo.

Hiện nay, một phần nhỏ rơm rạ được sử dụng làm phân bón sinh học, còn lại chủ yếu là đốt bỏ ngay trên đồng ruộng gây ra lãng phí và ảnh hưởng tới môi trường. Nếu biết tận dụng nguồn rơm rạ này sẽ có ý nghĩa về nhiều mặt.

Theo quan niệm từ xưa thì việc đốt rơm rạ tạo thành tro bón ruộng sẽ cung cấp được dinh dưỡng cho đất đã mất đi sau một vu mùa. Nhưng theo các nghiên cứu khoa học thì việc đốt rơm rạ lấy tro không giúp nâng cao chất lượng đất mà còn gây ảnh hưởng không tốt tới môi trường và tài nguyên đất tại nơi đốt. Bởi vì nó khiến cho cấu tạo đất tại vị trí đốt bị nóng, ảnh hưởng tới sinh vật có trong đất, làm thay đổi các thành phần cơ giới của đất khiến cho đất bị mất dinh dưỡng kéo theo, năng suất cây trồng giảm.

Ngoài ảnh hưởng đến đất trồng, việc đót rơm rạ còn gây ô nhiễm không khí tại các khu vực đó và những vùng phụ cận. Việc đốt rơm rạ tạo ra khỏi làm cho không khí bị ngột ngạt

Bên cạnh đó, khói tỏa ra từ những nơi đốt ảnh hưởng tới sức khỏe người dân trong khu vực và những vùng phụ cận. Không khí ngột ngạt, dẫn đến hiện tượng khó thở cho người dân trong khu vực đặc biệt là trẻ nhỏ, gây mất an toàn giao thông cho những người đang đang lưu thông trên đường.

Các hợp chất hữu cơ có trong rơm rạ như xenlulozo và hemixenlulozo, khi bị đốt sẽ phân hủy thành các chất khí độc như CO2 – một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hiệu ứng nhà kính, khiến cho Trái Đất bị nóng lên.

Cũng như rơm rạ, vỏ trấu xuất hiện nhiều ở những khu vực được coi là vựa lúa như đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng. Trước đây vỏ trấu tái sử dụng với rất nhiều mục đích như làm chất đốt, trộn với đất sét làm vật liệu xây dựng…. Tuy nhiên hiện nay chúng không còn được sử dụng nhiều cho các mụ đích này nữa mà thường đem đốt hoặc đổ xuống sông suối để tiêu hủy. Tình trạng trấu trôi khắp mặt sông, chìm xuống đáy gây ô nhiễm nguồn nước rất phổ biến tại các vùng quê trồng lúa.


Tình trạng đốt rơm ra sau thu hoạch

2.2. Phế phẩm từ ngô

Các phế phẩm có nguồn gốc từ ngô bao gồm: lõi ngô, bẹ ngô, lá và thân ngô. Bắp ngô sau khi tách hạt thì còn lại phần lõi ngô không được sử dụng, bẹ ngô là phần bọc bên ngoài bắp ngô nên còn gọi là vỏ ngô, áo ngô.

Sau khi thu hoạch xong các phế phẩm như lõi ngô, lá và thân ngô khi còn tươi sẽ được chế biến làm thức ăn cho gia súc và dùng làm chất đốt khi khô. Tuy nhiên hiện nay hầu hết đều không dùng các phế phẩm này làm nguyên liệu đốt nữa.

2.3. Phế phẩm từ những nguồn khác

Ngoài các phế phẩm từ các cây lương thực kể trên thì số lượng phế phẩm từ các cây công nghiệp như mía, cà phê, lạc, đậu tương, dừa… cũng chiếm một lượng tương đối lớn phế phẩm thải vào môi trường

3. Một số giải pháp tái sử dụng các phế phẩm nông nghiệp

Là một đất nước chuyên sản xuất nông nghiệp, hàng năm lượng phế phẩm thải ra trong quá trình sản xuất, chế biến cây lương thực, công nghiệp, sản xuất hoa quả, thực phẩm…là rất lớn và đa dạng. Chính vì thế, nếu tận dụng tái chế những phế phẩm nông nghiệp này sẽ giúp bảo vệ môi trường, nâng cao các giá trị sản phẩm, đồng thời cũng giải quyết việc làm cho những lao động ở nông thôn.

Tuy vậy việc tái chế các phế phẩm cũng gặp nhiều khó khăn khi nơi tập trung chủ yếu nguồn phế phẩm là tại nông thôn – nơi trực tiếp tạo ra phế phẩm, trong khi nơi thu mua và xử lí phế phẩm lại là các khu công nghiệp. Hơn nữa với tính chất sản xuất nỏ lẻ, phân tán càng khiến cho việc thu mua, tập trung các phế  phẩm lại một khu vực càng trở nên khó khăn.

Để giải quyết được các vấn đề khó khăn đó, các nhà khoa học đã đưa ra được một số giải pháp vừa giảm thiểu được ôi nhiễm và cải thiện môi trường đồng thời có thể tạo ra mô hình sinh kế cho cộng đồng, và cũng đã đem lại được những thành công nhất định.

3.1. Mô hình trồng nấm từ rơm

Trồng nấm có những ưu điểm đặc biệt như vón đầu tư thấp, lãi suất cao, nhanh thu hòi vốn, thị trường ổn định, kỹ thuật trồng không quá phức tạp, các nguyên liệu trồng nấm dễ tìm như rơm, rạ, mùn cưa, lõi ngô… Vì vậy các hộ nông dân đều có thể tham gia sản xuất nấm, giải quyết nhu cầu việc làm và tạo thu nhập cho gia đình.

Nguyên liệu chủ yếu để trồng nấm rơm là rơm. Một tấn rơm có giá trị đầu tư ban đầu không quá 5 triệu, sau 2 tháng thì có thế hoạch được khoảng 600kg nấm sò (nấm bào ngư) và với giá khoảng 30.000 – 40.000/ kg thì từ một tấn rơm ban đầu có giá chưa đến 5 triệu, bà con nông dân có thể thu lãi được từ 15 - 20 triệu đồng

3.2. Mô hình chế biến phân hữu cơ vi sinh từ rơm rạ

Lượng rơm rạ được thải ra từ các vựa lúa là rất lớn,cho nên ngoài ứng dụng vào việc trồng nấm, rơm ra còn được nghiên cứu và sử dụng cho mục đích tạo ra phân bón hữu cơ vi sinh.

Theo nhận định của các nhà khoa học thì phân bón hữu cơ vi sinh được tạo ra từ rơm rạ có thể phòng chống, hạn chế bệnh vàng lá, nghẹ trễ sinh lý, giúp lúa cứng cây, phát triển cân đối, đẻ nhánh tập trung nên giảm được tỷ lệ sâu bệnh gây hại. Hơn nữa, việc sử dụng phân hữu cơ vi sinh từ rơm rạ cũng giúp tăng năng suất trên các cây trồng khác như ngô, khoai, rau màu…. Ngoài việc xử lý rơm, rạ sau thu hoạch, làm thành phân bón hữu cơ còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc bảo vệ môi trường, giảm thiểu tai nạn giao thông do đốt rơm rạ.


Nấm được trồng từ rơm

3.3. Mô hình làm nghề thủ công mỹ nghệ kết hợp nông nghiệp

Với sự sáng tạo và khéo léo của bà con nông dân, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được làm từ phế phẩm từ lúa và ngô như bẹ ngô, xơ dừa và rơm được tạo ra với những mặt hàng có giá tri và tính thẩm mỹ cao.

Dưới bàn tay khéo léo của các nghệ nhân là người khuyết tật huyện Hậu Lộc – Thanh Hóa, từ bẹ ngô, họ làm thành những tấm thảm với kích thước 25 x 30 cm dùng trong gia đình, một trong những mặt hàng chủ lực của Hội Làng nghề người khuyết tật Thanh Hóa. Đồng thời đây cũng là nguồn thu nhập chủ yếu của nhóm cộng đồng này. Bên cạnh những thàm xơ dừa bẹ ngô ra,người khuyết tật Hậu Lộc – Thanh Hóa còn biết tận dụng nguồn phế phẩm từ lúa là rơm để làm ra những sản phẩm khác như chổi rơm, dép rơm và quả trứng mỹ thuật….Hai mặt hàng là dép rơm và quả trứng mỹ thuật dùng để xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản.